1. Các hình thức kinh doanh quốc tế hiện nay
Kinh doanh quốc tế càng có nhiều thách thức bởi những chức năng cơ bản của quản trị: hoạch định tổ chức, điều khiển, kiểm soát càng trở nên khó khăn hơn khi thực hiện hoạt động kinh doanh ở nhiều thị trường khác nhau trên thế giới.
Hoạch định dĩ nhiên có nhiều khó khăn nhưng càng khó khăn hơn đối với tổ chức, điều khiển kiểm soát. Ví dụ: cấu trúc của một tổ chức có thể hoạt động rất tốt ở một quốc gia nhưng có thể thất bại khi hoạt động ở quốc gia khác. Những kỹ thuật quản trị có thể đạt được năng suất làm việc cao ở Mỹ, nhưng có thể đạt thấp ở Nhật Bản, ở Anh..
Quản trị còn được hiểu là ra quyết định, ở khía cạnh này chúng ta xem xét ở khả năng của ba quyết định cơ bản mà quản trị một công ty phải làm khi đối mặt với triển vọng toàn cầu hoá. Dĩ nhiên, quyết định đầu tiên là có thể thâm nhập vào thị trường quốc tế không? Kế tiếp là nhà quản trị phải quyết định mức độ công ty xâm nhập vào thị trường quốc tế và cấu trúc tổ chức để đáp ứng tốt nhất với những nhu cầu.

Quyết định thâm nhập quốc tế

Các dạng sở hữu thâm nhập
- Nhà xuất khẩu là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm ở một quốc gia và sau đó đưa đi phân phối và bán những sản phẩm đó ở những quốc gia khác.
- Nhà nhập khẩu là doanh nghiệp mua những sản phẩm đó ở thị trường nước ngoài và sau đó nhập khẩu chúng để bán lại ở thị trường trong nước.
Hình thức thâm nhập thị trường quốc tế này là các rất tốt để học hỏi những điểm mạnh của kinh doanh thị trường thế giới. Nhiều hãng lớn đã bắt đầu những hoạt động quốc tế từ những nhà xuất khẩu như: IBM, Coca cola.. đã xuất khẩu đến thị trường châu Âu trong nhiều năm trước khi xây dựng những nhà máy sản xuất ở đó.
* Ưu điểm của xuất khẩu:
- Tránh được chi phí thiết lập nhà máy và hoạt động ở nước ngoài.
- Giúp doanh nghiệp đạt được chi phí sản xuất thấp và lợi thế địa điểm.
- Tránh được các ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế.
- Thu được ngoại tệ.
- Rủi ro do các hoạt động ở nước ngoài là thấp nhất.
- Là loại hình ít phải quản lý nhất.
- Là dạng tiếp cận thử nghiệm các hoat động kinh doanh quốc tế.
- Không phải chuyển giao bí quyết công nghệ.
- Thu tiền vay.
- Được sự ủng hộ của chính phủ nước chủ nhà vì các quốc gia quan tâm đặc biệt tới cán cân thanh toán.
* Nhược điểm của xuất khẩu.
- Sẽ không thích hợp nếu như doanh nghiệp không có lợi thế về địa điểm.
- Chi phí vận tải cao.
- Vấp phải hàng rào thuế quan.
- Không thực hiện được tốt công tác marketing do phải uỷ thác cho các đại diện nước ngoài.
- Bị ảnh hưởng mạnh bởi tỷ giá hối đoái.
- Phụ thuộc vào các nhà phân phối ở nước ngoài.
- Ít hiểu biết về thị trường.
- Thời gian phân phối dài.
- Lợi nhuận ít nhất.
b. Bản quyền.
Những công ty đang tìm cách xâm nhập một cách chắc chắn hơn vào kinh doanh quốc tế có thể chọn lựa bản quyền: các hãng cho những cá nhân hoặc những doanh nghiệp ở nước ngoài được độc quyền được chế tạo hoặc bán những sản phẩm của họ ở thị trường đó. Ngược lại, nhà xuất khẩu nhận được phí và thêm khoản thu được gọi là sự trung thành. Sự trung thành thường được tính như là phần trăm của việc bán bản quyền.
* Ưu điểm:
- Không cần phải đầu tư vào chi phí phát triển và tránh được rủi ro khi mở rộng thị trường.
- Phù hợp với những doanh nghiệp thiếu vốn để phát triển những hoạt động ở nước ngoài.
- Tránh được những cản trở về đầu tư.
- Phù hợp với những doanh nghiệp sở hữu tài sản hữu hình, có thể ứng dụng vào kinh doanh, nhưng doanh nghiệp không muốn tự phát triển những ứng dụng đó.
- Thu tiền ngay.
- Gắn với khách hàng hơn
- Xâm nhập nhanh, bao phủ rộng, ít nỗ lực quản lý.
* Nhược điểm:
- Không kiểm soát chặt chẽ về sản xuất, marketing, và các chiến lược đòi hỏi để đạt được lợi thế về chi phí thấp và lợi thế địa điểm.
- Nhà nhận bản quyền không cho phép các công ty đa quốc gia sử dụng lợi nhuận của họ để tài trợ cho các nhà nhận bản quyền khác để tăng tính cạnh tranh.
- Rủi ro khi chuyển giao công nghệ (chuyển giao bí quyết công nghệ)
- Rắc rối với những vấn đề luật pháp.
- Lợi nhuận bị hạn chế.
- Không phải là giải pháp dài hạn.
c. Đại lý độc quyền:
Là những cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, người đồng ý làm đại diện quyền lợi của nhà xuất khẩu ở những thị trường nước ngoài. Đại lý độc uyền thường hành động như là những người đại diện bán hàng họ bán những sản phẩm của nhà xuất khẩu, lưa chọn phương thức thanh toán, thực hiện những biện pháp thoả mãn khách hàng. Họ thường đại diện cùng lúc cho nhiều công ty và không chuyên môn hoá cho một sản phẩm hay thị trường bất kỳ nào. Ví dụ như levi Strauss sử dụng các đại lý để tiêu thụ những sản phẩm quần áo ở nhiều quốc gia ở châu phi, châu á, nam Mỹ.
* Ưu điểm:
- Xâm nhập nhanh vốn đầu tư ít.
- Ảnh hưởng nhãn hiệu quốc tế mạnh.
- Kiểm soát tốt hơn về bán hàng và hoạt động so với xuất khẩu và bản quyền.
- Không bị phụ thuộc vào một nhà phân phối.
- Sự tích ực nhiệt tình của các nhà lý với nhãn hiệu cao hơn so với xuất khẩu và bản quyền.
- Đạt được lợi thế kinh tế theo qui mô trong marketing, huấn luyện và thu mua nguyên liệu (tiêu chuẩn hoá cao)
* Nhược điểm:
- Sẽ hạn chế khả năng đem lợi nhuận của doanh nghiệp của nước này sang ủng hộ cạnh tranh ở quốc gia khác.
- Khó kiểm soát về chất lượng.
- Khó khăn trong việc thiết lập chi nhánh ở mỗi quốc gia hoặc khu vực mà doanh nghiệp muốn mở rộng.
- Các nhà đại lý kem sẽ phá huỷ khái niệm chung
- Sự nhầm lẫn của nước sở tại.
- Khó khăn trong việc chấm dứt hợp đồng
- Có thể xảy ra xung đột về địa bàn của các nhà đại lý
- Sự thích ứng của sản phẩm và dịch vụ bị hạn chế.
- Khi sản phẩm và dịch vụ được cung cấp từ nước ngoài sẽ gặp những khó khăn do hàng rào thương mại và rủi ro về tỷ giá hối đoái.
d. Văn phòng đại diện - chi nhánh
Thay vì phát triển mối quan hệ với công ty nước ngoài hoặc đại lý độc quyền, một hãng có thể đơn giản cử một số nhà quản trị của mình đến các văn phòng chi nhánh ở nước ngoài.Văn phòng chi nhánh là các văn phòng ở nước ngoài do các công ty quốc tế hoặc công ty đa quốc gia thiết lập. Thực tế, một công ty kiểm soát trực tiếp nhiều nhà quản trị chi nhánh hơn là các đại lý hoặc là các bản quyền. Các văn phòng chi nhánh cũng cho công ty có được xuất hiện rõ ràng hơn ở các quốc gia bên ngoài. Những khách hàng tiềm năng cảm thấy được bảo đảm hơn khi một doanh nghiệp có văn phòng chi nhánh ở quốc gia của họ.
Việc đặt các văn phòng chi nhánh đòi hỏi các công ty phải hiểu biết rõ hơn về thị trường, văn hoá nơi hoạt động. Bởi vậy, một công ty mà mở một văn phòng chi nhánh ở nước ngoài phải thiết lập mối kinh doanh dài hạn hơn so với làm xuất khẩu hoặc chọn đại lý độc quyền hoặc quản lý bảo quyền những người biếp rất rõ thị trường. Bởi vậy, một số công ty chọn lựa các văn phòng chi nhánh và bản quyền, trong khi quản lý bản quyền cung cấp lối vào cộng đồng kinh doanh địa phương thì văn phòng chi nhánh duy trì sự kiểm soát của công ty đối với toàn bộ sự quản lý bản quyền của nó.
e. Liên doanh.
Là việc thiết lập một doanh nghiệp bằng cách liên kết bởi hai hoặc nhiều doanh nghiệp độc lập khác nhau. Chẳng hạn như liên doanh Fuji-Xerox được thành lập từ hai công ty Xerox và Fuji Photo. Việc thiết lập liên doanh là cách phổ biến để thâm nhập thị trường mới.
* Ưu Điểm:
- Có được những kỹ năng, nguồn lực bổ sung.
- Tiếp cận tới những hiểu biết về thị trường(đối thủ cạnh tranh, văn hoá, ngôn ngữ, hệ thống chính trị và kinh tế).
- Chia sẻ chi phí đầu tư và rủi ro.
- Giảm được rủi ro bị quốc hữu hoá những hình thức can thiệp khác của chính phủ.
- Tránh được hàng rào thương mại.
- Giảm được chi phí vận chuyển.
- Được sự ủng hộ của các nước sở tại
- Tạo được hình ảnh với nước sở tại.
* Nhược Điểm:
Rủi ro trong việc kiểm soát công nghệ
- Không cho phép doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ các chi nhánh để có thể tận dụng được những lợi thế về chi phí và địa điểm cùng với việc toàn cầu hoá chóng lại các đối thủ cạnh tranh.
- Phải chia sẻ quyền hạn có thể dẫn đến mâu thuẫn và xung đột trong việc kiểm soát đầu tư và những mục tiêu cùng với quan điểm về chiến lược của liên doanh.
- Sự không ổn định về lâu dài
- Khó khăn cho việc chấm dứt
- Cần có sự phối hợp ở mức độ cao.
- Phải phơi bày những thông tin chiến lược cho đối tac.
- Mở rộng hoạt động quốc tế chậm do phải quản lý nhiều.
f. Sở hữu hoàn toàn.
Là một doanh nghiệp với sở hữu 100% cổ phần. Việc thiết lập công ty 100% vốn có thể được thực hiện bằng hai cách: doanh nghiệp có thể xây dựng một nhà máy mới hoặc có thể thôn tính doanh nghiệp đã có sẵn và sử dụng doanh nghiệp đó để khuyếch trương sản phẩm của nó tại thị trường đó.
f1. Sở hữu hoàn toàn thông qua xây dựng mới.
* Ưu điểm
- Tiềm năng lợi nhuận cao
- Sự ủng hộ của nước sở tại
- Kiểm soát các hoạt động tối đa ở nước ngoài
- Bảo vệ cao nhất bí quyết công nghệ
- Tiết kiệm chi phí vận tải tránh được hàng rào thương mại
- Giảm được những rủi ro của biến động tỷ giá hối đoái.
* Nhược Điểm:
- Tốn nhiều chi phí và hứng chịu mọi rủi ro của việc thành lập doanh nghiệp ở nước ngoài.
- Xâm nhập châm vì cần thời gian hình thành
- Bất lợi với các nhà cạnh tranh địa phương về nguồn lực vị trí và hiểu biết về thị trường
- Tạo ra năng lực tăng thêm làm cạnh tranh căng thẳng hơn đòi hỏi quản lý rất nhiều
- Rủi ro chính trị cao
- Khi quá trình sản xuất đã được thiết lập có thể rất khó thay đổi vì thế là giải pháp thiếu năng động.
f2. Sở hữu hoàn toàn thông qua thôn tính.
* Ưu điểm:
- Tận dụng được lợi thế về chi phí và địa điểm
- Xâm nhập nhanh vào thị trường nước ngoài
- Nhãn hiệu và vị trí thị trường đã được thiết lập
- Thôn tính được bí quyết công nghệ, hệ thống và nguồn nhân lực.
- Không tạo ra năng lực tăng thêm nên không làm cho cạnh tranh căng thẳng hơn.
- Có ảnh hưởng cộng đồng rộng lớn
- Tiềm năng lợi nhuận cao
- Tiết kiệm chi phí vận tải, tránh được hàng rào thương mại
- Tránh được những rủi ro biến động tỷ giá hối đoái
* Nhược điểm:
- Đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn nhất, rủi ro cao nhất
- Gặp những rắc rối của thôn tính và sát nhập
- Đánh động các nhà cạnh tranh
- Khó bán lại công ty sau khi mua
- Thường không đủ thời gian để kiểm tra công ty bị thôn tính
- Những rắc rối về sự chấp nhận về mặt chính trị.
2. Công ty quốc tế, công ty đa quốc gia.
a. Công ty quốc tế.
Cũng như những DN đạt được những thành công và thu được kinh nghiệm, các nhà xuất nhập khẩu có thể thường xuyên mở rộng (phát triển) mức độ thâm nhập quốc tế.
“Công ty quốc tế là công ty hướng phần quan trọng kinh doanh của mình ở những quốc gia bên ngoài.”
Các công ty quốc tế cũng ngày càng tăng dần điều kiện sản xuất dễ dàng hơn nước ngoài. Ví dụ, Kmart là một công ty quốc tế, hầu hết những cửa hàng bán lẻ là ở Mỹ, nhưng công ty cũng đã mở những cửa hàng ở Canada, ở Czech, Slovakia, Mexico. Bên cạnh đó công ty này cũng nhập khẩu những sản phẩm của các công ty ở những quốc gia khác. Mặc dù một công ty quốc tế có thể có những ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu nó vẫn duy trì phần quan trọng ở thị trường trong nước, chẳng hạn như Kmart vẫn thu được hơn 90% doanh thu từ việc bán sản phẩm ở thị trường Mỹ.
b. Công ty đa quốc gia.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 38000 công ty đa quốc gia với 207000 chi nhánh trên toàn cầu, trong đó có hơn 90% là của các nước công nghiệp phát triển. Đầu tư của các công ty đa quốc gia chiếm khoảng 80% tổng vốn đầu tư vào các nước khu vực châu Á. Ở Việt Nam theo ước tính tỷ lệ đó vào khoảng 60-70%.
Công ty đa quốc gia là công ty thiết kế, sản xuất và bán những sản phẩm ở nhiều quốc gia khác nhau.
Theo định nghĩa của trường đại học Havard, công ty đa quốc gia có 5 đặc trưng:
- Là doanh nghiệp có qui mô lớn, hoạt động trên khắp thế giới, có quyền lực về kinh tế chính trị
- Công ty không chỉ có khả năng xuất khẩu và chuyển nhượng kỹ thuật mà còn tiến hành sản xuất ở nước ngoài.
- Các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài không tập trung ở một số nước nhất định mà phân bố rộng rãi ở các nước
Công ty mẹ thâu tóm được các cứ điểm kinh doanh ở nước ngoài bằng chiến lược kinh doanh thống nhất.
Công ty mẹ và các cứ điểm kinh doanh ở nước ngoài cùng sử dụng các nguồn lực cho kinh doanh như: tiền vốn, kỹ thuật, nhân lực, mạng lưới tiêu thụ, nhãn hiệu hàng hoá -thông tin…
Ví dụ: IBM, GMC, Ford, Coca-co la, Dupont.. của Mỹ.
Mitsumitsi, Hitachi, Toshiba, Toyota Nhật.
* Những ưu điểm của công ty đa quốc gia:
Bên cạnh việc cung cấp. tạo ra các nguồn vốn lớn góp phần tăng trưởng kinh tế, MNCs có thể thúc đẩy tình hình và triển khai các dự án từ nguồn viện trợ phát triển (ODA), nguồn vay ưu đãi từ các tổ chức tài chánh quốc tế như: ADB, WB, IMF…
Thị trường quốc tế: các công ty đa quốc gia có mạng lưới marketing quốc tế rộng lớn để bán sản phẩm tại thị trường chính quốc của công ty cũng như tại nhiều quốc gia khác.
Chuyển giao công nghệ, triển khai dự án có kỹ thuật cao: Đa số các công ty đa quốc gia có công nghệ tiên tiến, họ có thể sẵn sàng chuyển giao những công nghệ đó cho nước chủ nhà, nếu các nhà kỹ nghệ địa phương có đủ khả năng sử dụng công nghệ sau khi được huấn luyện như: khai thác dầu khí, lọc dầu, điện lực, hoá chất, sản xuất ô tô, máy tính, thiết bị viễn thông..
Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động: theo ước tính hiện nay số MNCs lớn chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng số công ty nước ngoài đang làm ăn tại việt nam, nhưng tạo ra 65-70% tổng số công ăn việc làm.
Kích thích các doanh nghiệp địa phương: Sự có mặt của các công ty đa quốc gia kích thích các Doanh nghiệp địa phương tham gia mạnh mẽ vào việc cung cấp các loại nguyên liệu, các linh kiện và dịch vụ cho họ…góp phần tạo ra cơ hội và giao lưu văn hoá cho người dân địa phương.
Tạo ra cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý quốc tế, tác phong làm việc cho các nhà quản lý và nhân viên địa phương. Các công ty đa quốc gia sẽ mang theo kinh nghiệm quản trị và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành những nhà quản trị tại chỗ bổ sung vào đội ngũ cán bộ quản lý của họ.
Thúc đẩy xuất khẩu, góp phần bù đắp thiếu hụt về ngoại tệ và tạo nguồn thu ngân sách.
* Những bất lợi:
- Lũng đoạn nền kinh tế nước chủ nhà, gây nguy cơ mất cân đối cơ cấu kinh tế giữa các ngành vùng và địa phương.
- Hoạt động của các công ty đa quốc gia chạy theo nhu cầu và lợi ích riêng của chính công ty, những nhu cầu và lợi ích đó không phù hợp với những nhu cầu và lợi ích của nước chủ nhà. Chẳng hạn do thiếu nguồn nguyên liệu thích hợp tại chỗ công ty này quyết định nhập khẩu các nguyên liệu đó. Hành động này không có lợi đối với nhà cung cấp địa phương và cũng có thể ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của nước chủ nhà.
- Với quy mô lớn, quyền lực lũng đoạn, MNCs có xu hướng hoạt động trên những thị trường có tính độc quyền cao. Tình hình này tạo cho họ khả năng khống chế giá cả lợi nhuận cấu kết với các công ty khác trong việc quyết định các khu vực kiểm soát.
- Làm trầm trọng thêm sự bất công trong thu nhập. làm gia tăng sức ép trong công việc. Bên cạnh đó, việc sản xuất và thúc đẩy tiêu thụ bằng cách khuyếch chương, quảng cáo… những hàng hoá. Dịch vụ xa xỉ cũng là điều đáng quan tâm.
- Chủ quyền quốc gia có thể bị xâm phạm: Chính phủ nước chủ nhà có thể e ngại về chủ quyền quốc gia có thể bị mất bởi các công ty đa quốc gia chỉ phục vụ lợi ích cho chính quốc.
- Nguy cơ lũng đoạn làm thay đổi chính sách kinh tế, tha hoá quan chức nhà nước. MNCs có thể liên kết gây sức ép trực tiếp hoặc thông qua ảnh hưởng chính trị, kinh tế của nước mình và các tổ chức quốc tế vơi chính quyền địa phương nhằm thay đổi luật pháp, chính sách sao cho có lợi cho họ.
- Nguy cơ đầu tư tài chính, rút vốn ồ ạt gây chấn động khủng hoảng kinh tế. Đây là bài học lớn rút ra từ cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước Đông Nam Á như: Indonesia, Thailan…
- Chảy máu ngoại tệ; Các công ty đa quốc gia có thể nhập khẩu nguyên liệu và máy móc hay chuyển lợi nhuận, tiền lãi được chia của họ về nước. Những việc làm này sẽ gây ảnh hưởng đến tiềm lực của nước chủ nhà.
- Kiềm hãm các doanh nghiệp sản xuất trong nước, gia tăng sự phụ thuộc, khai thác kiệt quệ tài nguyên, lệ thuộc vào nước ngoài.
- Nước chủ nhà có thể bị lệ thuộc quá nhiều vào công nghệ nhập khẩu trừ khi họ có thể thích nghi được với các công nghệ ấy để đưa vào sử dụng trong các ngành công nghiệp nội địa hoặc để bắt đầu các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong nước.
- Các ngành công nghiệp không mong muốn: Một số công ty đa quốc gia chuyển hoạt động của họ ra nước ngoài vì hoạt động này gây tác hại cho môi trường và đã bị cấm sản xuất ở chính đất nước của họ. Ngoài ra, chuyển giao công nghệ lạc hậu với giá cao tạo nên những bất lợi cho các đối tác trong nước.